Xuất bản thông tin

Di tích Chùa Ái Mộ
Ngày đăng 07/09/2015 | 09:08  | Lượt xem: 4042

.

          

          Phường Ngọc Lâm là một trong 14 phường trực thuộc quận Long Biên , thành phố Hà Nội đang trong quá trình Đô thị hóa một cách mạnh mẽ theo tiến trình phát triển của đất nước ta "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa"; đặc biệt tập chung phát triển về cơ sở hạ tầng. Ngọc Lâm ngày nay, phát triển hơn, hiện đại hơn, khang trang hơn nhờ các ngôi nhà cao tầng và đường xá được mở rộng. Tuy nhiên, không vì thế mà làm mất đi vẻ đẹp truyền thống vốn có của Làng Ngọc Lâm lâu đời. Những di tích lịch sử vẫn đang được gìn giữ, bảo tồn và khi nhắc tới các di tích lâu đời nhất của phường Ngọc Lâm phải kể đến đó là Chùa Ái Mộ.

          Chùa Ái Mộ có tên chữ là " thiên định tự". Ái Mộ là tên gọi của di tích theo địa danh của làng xưa kia. Chùa được dựng lên trên mảnh đất có bề dày lịch sử lâu đời gắn liền với Thăng Long địa linh nhân kiệt. Chùa Ái Mộ nằm phía trong đê sông Hồng, giáp cầu Long Biên, phía Bắc giáp phường Ngọc Thụy. Thời Nguyễn thuộc địa phận các xã Ái Mộ, Ngọc Lâm, Thượng Cát, tổng Gia Thụy, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Sau cách  mạng tháng 8 năm 1945, đổi là phố 38, thuộc quận 8, rồi phố của xã Ái Quốc ( tức xã Hồng Tiến, sau đổi là xã Bồ Đề), thành phố Hà Nội. Nay thuộc phường Ngọc Lâm, quận Long Biên. Di tích  tích nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 3Km về phía Đông – Bắc. Từ trung tâm thủ đô qua cầu Chương Dương rẽ trái, đi tiếp khoảng 150m theo đường đê sông Hồng là tới di tích.

          Chùa Ái Mộ là một di tích được khởi  dụng từ rất sớm, để thờ Phật. Căn cứ vào những tấm bia hiện còn lưu giữ tại di tích, chùa đã trải qua nhiều lần trung tú sửa chữa, được ghi lại trên các tấm bia: " Thiên Định tự bi ký" dựng năm Cảnh Hưng thứ 33 (1772), đã tu sửa lại toàn bộ các hạng mục của chùa; năm Cảnh Hưng thứ 44 ( 1783) trùng tu tòa thượng điện; tháng 4 năm Quý Mùi (1823) dựng lại hành lang phía tây; năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) dựng Gác chuông, Tam quan và dãy hành lang bên phải; năm Thành Thái thứ 6 (1894) tiếp tục sửa lại chùa và tô lại tượng. Ngoài ra, di tích còn những đợt tu sửa nhỏ khác; do nhiều biến động của tự nhiên và xã hội, nên lối kiến trúc của Chùa đã thay đổi khá nhiều so với gốc cũ của Chùa. Kiến trúc hiện nay mang đậm dấu ấn của lần trùng tu vào cuối thế kỷ XĨ, đầu thế kỷ XX.

          Hiện nay, chùa Ái Mộ tọa lạc trong khuôn viên rộng thoáng đãng bao gồm các công trình kiến trúc sau: Tam quan kiểu gác chuông; khu chùa chính; Nhà Tổ; Nhà Mẫu và các nếp nhà liên quan khác. Tuy từng đơn nguyên có niên đại khời dựng ở các thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng công trình này đều gắn bó tạo thống nhất và hài hòa.

         Chùa chính có kết cấu hình chữ đinh (chuôi vồ) gồm 7 gian Tiên đường, 4 gian dọc của Thượng điện đều theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói di.

         Kết cấu các bộ vì Thượng điện giống như tòa Tiền đường. Tại các gian của Thượng điện có trang trí các bức y môn chạm đề tài tứ linh (Long Ly, Quy, Phượng); tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai) hết sức công phu, tỷ mỷ, biểu tượng cho sự bền vững, thanh cao. Đặc biệt bức y môn được trang trí các đề tài: tùng, cúc, trúc, mai, văn hình hoc, văn chữ triện rất uyển chuyển và mềm mại mang những nét đặc trưng của phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

          Chùa Ái Mộ cũng có đầy đủ các lớp tượng như: Tam thế, A Di Đà Tam tôn (Quan Thế Âm Bồ tát – A Di Đà – Đại Thế Chí Bồ Tát), Quan Âm Chuẩn Đề, Di Lặc, Ngọc Hoàng, hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu, tòa Cửu Long Thích Ca sơ sinh được tạc bằng đồng. Mỗi pho tượng đều toát lên vẻ đẹp tao nhã, thánh thiện nhưng cũng rất uy nghiêm, thể hiện sự khéo léo, tinh tế của các nghệ nhân xưa. Đáng lưu tâm nhất là bộ Tam thế được tạc ngồi trong tư thế bán kiết già, hai tay đặt giữa lòng đùi, tóc buộc cao nổi rõ khối nhục kháo ở đỉnh đầu, khuôn mặt trái xoan, mũi thẳng mắt khép xuống, tai chảy dài xuống vai ở giữa thót lại, tượng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XĨ, đây là bộ tượng xếp vào loại đẹp nhất của chùa hiện nay.

          Ngoài ra, chùa còn lưu giữ được khá nhiều di vật có giá trị lịch sử văn hóa như: 18 tấm bia đá ghi việc trùng tu, sửa chữa chùa..., 2 chuông đồng được đúc vào năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), cùng hệ thống hoành phi, câu đối, y môn, cuốn thư, Long ngai, khám thờ...với các đề tài chạm khắc như tứ linh, tứ quý, Rồng chầu, Hổ phù...đều được tạc bằng gỗ và sơn son thếp vàng, lộng lẫy làm tăng thêm giá trị cho di tích.

          Chùa Ái Mộ đã thực sự là một trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư làng xã, góp phần vào việc giáo dục truyền thống cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.